Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thái Thương
Ngày gửi: 07h:19' 20-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Võ Thái Thương
Ngày gửi: 07h:19' 20-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
Mục Lục
Mục Lục
Chương 1
Chương 2: Tán Thành Và Phản Đối
Chương 3: Xin Tùy Giáo Sư
Chương 4: Nét Len
Chương 5: May Rủi
Chương 6: Mở Hết Tốc Lực
Chương 7: Con Cá Voi Không Biết Thuộc Loại Nào
Chương 8: Mobilis In Mobile
Chương 9: Nét Len Nổi Khùng
Chương 10: Người Chủ Của Biển Cả
Chương 11: Tàu\ "Nau-ti-lúx\ "
Chương 12: Tất Cả Đều Chạy Bằng Điện!
Chương 13: Vài Con Số
Chương 14: Dòng\ "Sông Đen\ "
Chương 15: Giấy Mời
Chương 16: Dạo Chơi Dưới Đáy Biển
Chương 17: Khu Rừng Dưới Biển
Chương 18: Bốn Ngàn Dặm Dưới Thái Bình Dương
Chương 19: Va-ni-cô-rô
Chương 20: Eo Biển Tô-rex
Chương 21: Mấy Ngày Trên Đảo
Chương 22: Tiếng Sét Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 23: Cơn Ngủ Không Thể Giải Thích Được
Chương 24: Vương Quốc San Hô
Chương 25: Ấn Độ Dương
Chương 26: Đề Nghị Mới Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 27: Viên Ngọc Giá Mười Triệu
Chương 28: Biển Đỏ
Chương 29: Đường Ngầm A-ra-bi-a
Chương 30: Quần Đảo Hy Lạp
Chương 31: Bốn Mươi Tám Giờ Qua Địa Trung Hải
Chương 32: Vũng Biển Vi-gô
Chương 33: Một Lục Địa Đã Biến Mất
Chương 34: Mỏ Than Ngầm Dưới Biển
Chương 35: Biển Xác-gax
Chương 36: Cá Nhà Táng Và Cá Voi
Chương 37: Băng Giá Mênh Mông
Chương 38: Nam Cực
Chương 39: Một Trở Ngại Ngẫu Nhiên Hay Một Trường Hợp Rủi Ro
Chương 40: Thiếu Không Khí
Chương 41: Từ Mũi Hoóc Đến A-ma-dôn
Chương 42: Bạch Tuộc
Chương 43: Hải Lưu Gơn-xtơ-rim
Chương 44: Độ Vĩ 47o24' Và Độ Kinh 17o28'
Chương 45: Nghĩa Địa Khổng Lồ
Chương 46: Những Lời Cuối Cùng Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 47: Kết Luận
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Năm 1866 được đánh dấu bằng một sự kiện kỳ lạ, một hiện tượng không
được giải thích và không thể giải thích nổi mà chắc chưa ai quên. Những lời
đồn đại về hiện tượng bí hiểm đó chẳng những làm nhân dân các thành phố
cảng và các lục địa xôn xao, mà còn gây hoang mang lớn trong đám thủy
thủ. Cánh lái buôn, chủ tàu, thuyền trưởng ở châu Œu và châu Mỹ, các sĩ
quan hải quân các nước, và sau đó nhiều chính phủ ở cả hai châu đều hết
sức lo lắng về sự kiện này. Số là thời gian gần đây, nhiều tàu buôn đi biển
thường gặp một vật hình thoi dài đôi khi sáng lấp lánh, vượt xa cá voi về
kích thước và tốc độ di chuyển. Những lời ghi trong nhật ký của các con tàu
đó giống nhau một cách lạ lùng về sự miêu tả hình dáng bên ngoài, về tốc
độ ghê gớm và sức mạnh của vật đó, cũng như về thái độ đặc biệt của nó.
Nếu đó là một loại cá voi thì theo sự miêu tả, nó lớn hơn tất cả những con
cá voi đã được khoa học biết đến. Không một nhà khoa học nào có thể tin
được hiện tượng kỳ lạ này nếu không được nhìn thấy nó tận mắt. Nếu bỏ
qua những sự đánh giá quá dè dặt cho rằng con quái vật không dài quá sáu
mươi mét và gạt đi những lời thổi phồng quá đáng miêu tả nó như một con
vật khổng lồ rộng một hải lý, dài ba hải lý, thì ta vẫn phải thừa nhận rằng
quái vật, nếu có thật, nhất định vượt quá những kích thước đã được các nhà
động vật học ghi nhận. Con người vốn cả tin những điều huyền hoặc, nên ta
cũng dễ hiểu rằng hiện tượng kỳ lạ này đã làm họ xao xuyến thế nào. Một
số người đã tìm cách xếp tất cả các câu chuyện đó vào một loại bịa đặt hão
huyền, nhưng vô ích! Con vật kia vẫn tồn tại, điều đó không còn nghi ngờ
gì nữa. Ngày 20 tháng 7 năm 1866, chiếc tàu Ga-vớc-nơ Hi-ghin-xơn của
công ty tàu biển Can-cút-ta-en Béc-nắc đã gặp một vật nổi khổng lồ cách bờ
biển phía đông úc năm hải lý. Thoạt tiên, thuyền trưởng Bê-cơ đinh ninh
rằng mình phát hiện ra một dải đá ngầm chưa được ghi trên bản đồ. ạng ta
vừa bắt đầu xác định tọa độ của dải đá, thì từ trong lòng cái khối màu đen
ấy bỗng vọt lên hai cột nước cao hơn bốn mươi mét. Vì sao vậy? Đó là một
dải đá mạch nước ngầm? Hay đó chỉ là một động vật có vú sống dưới biển
phun không khí từ mũi ra làm vọt lên những luồng nước?
N
Ngày 23 tháng 7 năm đó, tàu Cri-xtô-ban Cô-lôn của Công ty tàu biển
Đông ấn lại thấy hiện tượng này ở vùng biển Thái Bình Dương. Xưa nay
đâu có chuyện cá voi bơi với tốc độ lạ thường như vậy? Chỉ trong ba ngày
mà hai chiếc tàu gặp nó ở hai điểm cách nhau trên bảy trăm dặm. Mười lăm
ngày sau, cách nơi nói trên hai ngàn dặm, tàu Hen-vê-xi-a của Công ty tàu
biển Quốc gia và tàu Sa-nơn của Công ty Roi-ơn Mây-lơ trên đường đi giữa
châu Mỹ và châu Œu gặp nhau ở Đại Tây Dương, đã phát hiện ra quái vật ở
42, 15 độ vĩ bắc và 60, 35 độ kinh về phía tây kinh tuyến Grin-uýt. Hai tàu
cũng quan sát và xác định được bằng mắt, là con vật có vú, dài ít nhất hơn
một trăm mét. Họ xác định được như vậy là vì hai tàu đều nhỏ hơn con vật,
mặc dù cả hai đều dài một trăm mét. Giống cá voi khổng lồ ở vùng đảo Alê-út cũng không thể dài quá năm mươi mét. Những tin tức này dồn dập bay
về, những thông báo mới của tàu Pê-rê vượt Đại Tây Dương, cuộc chạm
trán giữa quái vật với tàu ét-na, biên bản của các sĩ quan trên chiếc tàu
chiến Pháp Noóc-măng-đi và bản báo cáo tỉ mỉ của Phít-xơ Giêm-xơ,
thuyền trưởng tàu Lo Clai-đơ -tất cả những cái đó đã làm náo động dư luận.
ở những nước hay suy nghĩ hồ đồ thì hiện tượng kỳ lạ này là đề tài vô tận
cho những chuyện bông đùa, nhưng những nước chín chắn hơn và có đầu
óc thực tế như Anh, Mỹ, Đức thì hết sức quan tâm đến chuyện này. ở thủ đô
các nước, con quái vật đã trở thành "mốt": người ta hát về nó trong các tiệm
cà phê, nhạo báng nó trên báo chí, đưa nó lên sân khấu. Vớ được dịp may
hiếm có, mấy tờ lá cải tha hồ tung tin vịt. Họ dựng lên đủ loại quái vật
hoang đường, từ con cá voi trắng khủng khiếp ở các nước vùng Bắc cực đến
những con bạch tuộc gớm ghiếc có thể dùng vòi cuốn cả tàu chở nặng năm
trăm tấn dìm xuống đáy biển. Trong các hội nghiên cứu và các tạp chí khoa
học nổi lên một cuộc tranh luận ồn ào không dứt giữa những người tin và
không tin.
Các nhà báo, những người yêu khoa học trong cuộc tranh cãi với đối
phương, đã phải đổ biết bao nhiêu mực thậm chí một số đã đổ cả máu vì
cuộc đấu khẩu về con rắn biển đó dẫn tới những trận đấu chân đấu tay thực
sự! Cuộc "chiến tranh" này đã kéo dài suốt sáu tháng ròng không phân
thắng bại... Mấy tháng đầu năm 1867, câu chuyện quái vật hình như đã bị
chôn vùi và chẳng cần gợi lại làm gì. Nhưng những sự kiện mới lại lan
truyền trong công chúng. Bây giờ không còn là chuyện giải quyết một vấn
đề khoa học thú vị nữa, mà là một nguy cơ nghiêm trọng. Quái vật đó đã
biến thành một hòn đảo, một dải đá ngầm di động, bí hiểm, không thể bắt
được! Mùng năm tháng ba năm 1867, tàu Mô-ra-vi-an của Công ty tàu biển
Mông-rê-an đang chạy nhanh ở 27, 30 độ vĩ và 72, 15 độ kinh bỗng đâm
phải một dải đá ngầm không thấy ghi trên một bản đồ hoa tiêu nào. Nhờ gió
thuận và động cơ mạnh bốn trăm sức ngựa, chiếc tàu chạy với tốc độ mười
ba hải lý một giờ. Tàu đâm mạnh đến nỗi nếu vỏ tàu không thật vững vàng
thì nhất định sẽ bị đắm cùng với hai trăm ba mươi bảy thủy thủ và hành
khách từ Ca-na-đa về. Cuộc va chạm xảy ra lúc rạng đông, khoảng năm giờ
sáng. Các sĩ quan trực nhật lao tới mũi tàu. Họ xem xét rất kỹ mặt biển,
nhưng chẳng thấy gì đáng nghi ngờ, ngoài một đợt sóng to nổi lên cách đó
hơn nửa ki-lô-mét. Xác định tọa độ xong, tàu Mô-ra-vi-an lại tiếp tục hành
trình mà không thấy chỗ nào bị hư hại. Nó đã va phải cái gì vậy? Một dải đá
ngầm hay xác một chiếc tàu bị đắm? Chẳng ai biết cả. Nhưng sau đó, khi
xem xét phần dưới của tàu ở xưởng sửa chữa, người ta thấy một bộ phận
của lòng tàu bị hư hại. Sự kiện nghiêm trọng này chắc cũng có thể bị lãng
quên nhanh chóng như nhiều sự kiện khác tương tự, nếu ba tuần sau đó nó
không được lặp lại trong những điều kiện y hệt. Và cũng do chiếc tàu mang
cờ một cường quốc và thuộc một công ty hàng hải nên tin xảy ra tai nạn
được truyền đi rất rộng...
Ngày 13 tháng 4 năm 1867, tàu Xcốt-len cũng thuộc công ty nói trên
đang ở 15, 37 độ kinh và 45, 37 độ vĩ. Biển lặng, gió nhẹ. Nhờ động cơ rất
mạnh, tàu chạy hơn mười ba hải lý một giờ. Guồng bánh quay đều trong
sóng biển. Bốn giờ mười bảy phút chiều, khi hành khách đang ăn trong
phòng ăn thì thân tàu bỗng rung lên vì va nhẹ vào một vật gì đó ở phía lái,
sau guồng bên trái một chút. Xét tính chất của va chạm, có thể đoán là tàu
vừa bị một vật nhọn đâm vào. Nhưng có lẽ cũng chẳng ai chú ý tới sự việc
đó nhiều, nếu thợ đốt lò không chạy lên boong và kêu ầm lên: -Hầm tàu bị
thủng! Hầm tàu bị thủng! Trong giây phút đầu, hành khách hoang mang
nhốn nháo, nhưng thuyền trưởng An-đớc-xơn đã làm họ bình tĩnh lại. Thực
ra tàu không bị đe dọa gì. Vì nó được chia thành bảy ngăn riêng biệt không
thấm nước, nên một chỗ rò rỉ nhỏ chẳng đáng sợ. An-đớc-xơn lập tức xuống
hầm tàu. ạng ta thấy ngăn số năm bị ngập nước. Căn cứ vào tốc độ nước ùa
vào, thì lỗ thủng ở thân tàu khá to. Cũng may là ở ngăn này không có nồi
hơi, nếu có thì đã bị tắt ngấm. An-đớc-xơn ra lệnh tắt máy và cử một thuỷ
thủ lặn xuống nước xem xét chỗ thủng. Mấy phút sau xác định được rằng
phần dưới thân tàu có một lỗ thủng rộng hai mét. Vì không có khả năng bịt
kín chỗ đó nên tàu Xcốt-len phải tiếp tục hành trình, để guồng bánh xe ngập
một nửa xuống nước. Tai nạn xảy ra cách mũi Cle ba trăm hải lý. Thế là tàu
Xcốt-len cập bến Li-vớc-pun chậm mất ba ngày, làm mọi người hết sức lo
lắng. Tàu được đưa vào xưởng sửa chữa để các kỹ sư xem xét. Họ không tin
ở mắt mình nữa! ở thân tàu, dưới mặt nước hai mét rưỡi, có một lỗ thủng
hình tam giác cân. Ba cạnh của lỗ thủng rất nhẵn, tựa như bị kéo cắt. Rõ
ràng là vật chọc thủng thân tàu phải có độ rắn rất cao. Hơn nữa sau khi
xuyên qua lá thép dày bốn cen-ti-mét, nó tự rút ra được. Sự việc đó không
ai giải thích nổi!
Từ ngày đó, tất cả những tai nạn ngoài biển mà không có nguyên nhân
đều quy cả cho quái vật. Nó phải chịu trách nhiệm về nhiều vụ đắm tàu.
Đáng tiếc rằng số tàu bị đắm khá lớn và ít nhất có hai trăm trong số tàu đắm
được coi là "mất tích". Dù sao thì cũng do quái vật mà giao thông giữa các
lục địa ngày càng nguy hiểm. Dư luận tha thiết yêu cầu phải trừ khử quái
vật đó bằng bất kỳ giá nào.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 2
Tán Thành Và Phản Đối
Khi xảy ra những việc vừa kể trên thì tôi đã hoàn thành công việc nghiên
cứu ở bang Nê-brát-xca (bắc Mỹ) và đang quay về. Chính phủ Pháp cử tôi
vào đoàn nghiên cứu khoa học với tư cách là phó giáo sư của Viện bảo tàng
lịch sử tự nhiên Pa-ri. Sau khi đã đi khắp miền Nê-brát-xca trong sáu tháng
và thu thập được những bộ hiện vật hết sức quý giá, cuối tháng ba tôi về tới
Niu I-ooc. Tôi dự định sẽ lên đường về Pháp vào đầu tháng năm. Vì vậy,
mấy ngày rỗi rãi còn lại trước khi xuống tàu, tôi dành để xếp loại những bộ
sưu tập về khoáng vật, thực vật và động vật của tôi. Chính lúc đó tàu Xcốtlen gặp nạn. Tất nhiên tôi theo dõi sát mọi việc đã làm dư luận xôn xao. Tôi
đã đọc đi đọc lại tất cả những báo chí châu Mỹ và Châu Œu, nhưng những
cái đó cũng chẳng soi sáng gì thêm cho vấn đề đang làm mọi người thắc
mắc. Câu chuyện bí hiểm đã kích thích tính tò mò của tôi...
K
Tôi tới Niu I-ooc đúng lúc đang nổi lên những cuộc tranh cãi gay gắt
xung quanh câu chuyện này. Những giả thiết về hòn đảo di động, về dải đá
ngầm do những người ít thẩm quyền đề ra, đã bị vứt bỏ hoàn toàn. Thật vậy
"dải đá ngầm" sao có thể di chuyển với tốc độ như vậy nếu nó không có
máy móc cực mạnh? Giả thiết cho rằng đó là xác một chiếc tàu khổng lồ bị
đắm trôi đi với tốc độ ghê gớm như vậy cũng bị gạt bỏ. Còn lại hai giả thiết
có người ủng hộ: một số người cho rằng mọi sự bất hạnh đều do một con
vật khổng lồ gây ra; một số khác thì cho rằng đó là một chiếc tàu ngầm có
động cơ cực mạnh. Giả thiết cuối cùng đó có vẻ gần sự thật hơn cả, nhưng
lại bị bác bỏ sau những cuộc điều tra ở cả hai bán cầu. Khó có thể tin rằng
một tư nhân nào lại có được một chiếc tàu như vậy. Nó đã được đóng bao
giờ và ở đâu? Và việc đóng một chiếc tàu khổng lồ như vậy làm sao có thể
giữ kín được? Chỉ nhà nước mới có thể chế tạo ra những loại máy có sức
phá hoại ghê gớm như vậy. ở thời đại chúng ta, khi trí tuệ con người rất
thành thạo trong việc sáng chế ra những công cụ giết người thì cũng dễ tin
được rằng có một nước nào đó đã bí mật chế tạo và đem thử chiếc tàu
khủng khiếp này. Nhưng cuối cùng giả thiết về một chiếc tàu ngầm quân sự
đã đổ sụp, vì tất cả các chính phủ đều tuyên bố là không dính dáng gì đến
chuyện này. Không thể nghi ngờ được sự thành thật của những bản tuyên bố
đó, vì các đường biển quốc tế đều bị đe dọa. Hơn nữa, việc đóng một chiếc
tàu ngầm khổng lồ như vậy không thể thoát khỏi sự chú ý của dư luận. Giữ
bí mật trong những điều kiện như vậy đối với tư nhân đã hết sức khó, còn
đối với từng nước là điều không tưởng vì mỗi hành động của họ đều bị các
cường quốc đối địch theo dõi gắt gao. Thế là sau khi điều tra ở các nước
Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Mỹ và cả Thổ nữa, giả thiết
về tàu ngầm đã phá sản hoàn toàn. Mặc dù bị những tờ báo lá cải chế giễu,
con quái vật kia lại nổi lên mặt nước. óc tưởng tượng được kích động lại vẽ
nên những bức tranh vô lý nhất trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng. Về tới
Niu I-ooc, tôi có vinh dự được nhiều người đến hỏi ý kiến về vấn đề này. ở
Pháp tôi có cho xuất bản cuốn sách in thành hai tập, nhan đề "Những bí mật
của biển sâu". Cuốn sách đó được giới khoa học hoan nghênh và đã khiến
tôi trở thành chuyên gia nổi tiếng về một lĩnh vực ít được nghiên cứu của
lịch sử tự nhiên. Người ta yêu cầu tôi phát biểu ý kiến về vấn đề này.
Nhưng trong tay tôi không có một tài liệu cụ thể nào nên tôi từ chối, lấy cớ
là hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Tuy nhiên, bị dồn vào chân tường, tôi
đành phải nói lên phán đoán của mình. Và cuối cùng, "Tôn ông A-rô-nắc",
giáo sư viện bảo tàng Pa-ri, mà các phóng viên báo Niu I-oóc Hê-rơn yêu
cầu "phát biểu ý kiến" phải đầu hàng. Tôi lên tiếng vì im lặng mãi cũng
không tiện. Tôi xem xét vấn đề về cả mọi mặt chính trị và khoa học.
Tôi xin trích ra đây mấy đoạn trong bài báo đăng ngày 30-4: “Sau khi cân
nhắc từng giả thiết đã được đề ra và không có những giả thiết khác vững
chắc hơn, chúng ta đành thừa nhận sự tồn tại của một con vật sống dưới
biển có sức mạnh phi thường. Những lớp nước sâu của đại dương hầu như
chưa được nghiên cứu. Chưa một cuộc thăm dò nào xuống được tới những
lớp nước đó. Cái gì đang xảy ra dưới vực thẳm chưa ai biết đến ấy? Những
sinh vật nào đang sống và có thể sống ở độ sâu mười hai, hay mười lăm hải
lý dưới mặt biển? Cơ thể của chúng ra sao? Bất kỳ giả thiết nào cũng chỉ là
phỏng đoán mà thôi. Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta có thể giải quyết bằng
hai cách: Hoặc là chúng ta đã biết hết các loài sinh vật sống trên hành tinh
chúng ta, hoặc là chưa biết hết. Nếu ta chưa biết hết, nếu trong lĩnh vực ngư
học, thiên nhiên còn giấu ta nhiều điều bí mật, thì chẳng có cơ sở nào để
không thừa nhận sự tồn tại của những con cá, hay động vật có vú thuộc
những giống, loài mà ta chưa biết, những sinh vật đặc biệt sống được ở các
lớp nước sâu; chỉ thỉnh thoảng mới nổi lên mặt biển do tác động của các
Quy luật vật lý nào đó, hoặc do tính khí bất thường của thiên nhiên. Trái lại,
nếu ta đã biết hết các loài động vật, thì cần tìm kiếm con vật nói trên trong
số những con vật biển đã được phân loại, trong trường hợp này, tôi sẵn sàng
cho rằng đây là một con cá thiết hình khổng lồ. Cá thiết hình bình thường,
hay cá một sừng, dài tới mười tám mét. Hãy nhân kích thước nó lên năm
lần, mười lần, hãy cho nó một sức mạnh, một cái sừng cân xứng với thân
hình nó. Như vậy các bạn sẽ hình dung được con quái vật! Nó sẽ có kích
thước mà các sĩ quan tàu Sa-nơn cho biết, có cái sừng nhọn đâm thủng
được tàu Xcốt-len và các tàu vượt đại dương khác. Cá thiết hình có một
sừng lớn sắc như gươm và rắn như thép. Người ta đã nhiều lần thấy những
vết thương trên mình cá voi là loại động vật mà bao giờ cá thiết hình cũng
đánh thắng.
Nhiều khi người ta lấy được những mảnh vụn của sừng cá ở vỏ tàu bằng
gỗ bị đâm thủng. Viện bảo tàng của Đại học y khoa Pa-ri có một cái sừng cá
thiết hình dài hai mét hai mươi lăm cen-ti-mét, chu vi chỗ to nhất là bốn
mươi tám cen-ti-mét. Chúng ta hãy hình dung một cái sừng lớn hơn mười
lần, con cá mạnh hơn mười lần, bơi nhanh hai mươi nhăm hải lý một giờ,
hãy nhân khối lượng của con cá với tốc độ của nó, thì sẽ hiểu được nguyên
nhân gây ra tai nạn. Tóm lại, trong khi chờ đợi những tin tức đầy đủ hơn,
tôi nghiêng về ý kiến cho rằng đây là một con cá thiết hình khổng lồ có
sừng nhọn, lớn như những tàu chiến bọc thép và cũng di chuyển nhanh như
vậy. Tôi xin giải thích hiện tượng bí hiểm này như trên, nhưng với điều kiện
là nó phải có thực chứ không phải là chuyện bịa đặt (điều này cũng có thể
xảy ra)." Những lời cuối cùng là mưu mẹo của tôi: tôi muốn giữ uy tín của
nhà bác học và không muốn cho dân Mỹ, một dân tộc hay đùa cợt, có cớ để
nhạo báng. Tôi đã để lại một con đường để rút lui. Thực lòng tôi rất tin rằng
đây là một quái vật. Bài báo của tôi đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi
và được nhiều người đọc. Có cả những người tán thành tôi. Cách giải quyết
vấn đề do tôi đề nghị, cho phép người ta được hoàn toàn tự do tưởng tượng.
Trí tuệ con người được thỏa thích tạo nên hình tượng những con vật khổng
lồ, mà những động vật trên trái đất như: voi, tê giác, nếu đứng cạnh chỉ là
những chú chim chích. Môi trường nước sản ra những loài có vú rất lớn, có
lẽ cả những loài nhuyễn thể khổng lồ, những loài giáp xác khủng khiếp,
những con cua nặng hai trăm tấn! Đã có một thời, những động vật trên trái
đất, những loài bốn chân bốn tay, bò sát và chim đều có hình thù đồ sộ. Sau
đó thời gian đã rút ngắn kích thước của chúng lại. Vì sao ta không thể cho
rằng dưới các lớp biển sâu chưa được nghiên cứu còn bảo tồn được những
động vật khổng lồ của những thời kỳ xa xưa nhất?
Nhưng nếu tất cả câu chuyện huyền bí đó đối với một số người chỉ có ý
nghĩa thuần túy khoa học, thì những người có đầu óc thực tế hơn, đặc biệt là
người Mỹ và người Anh, lại rất lo lắng đến sự an toàn của các đường giao
thông vượt đại dương và đặt việc trừ khử con quái vật ra một cách cấp thiết.
Báo chí đại diện quyền lợi của các giới công nghiệp và tài chính xem xét
vấn đề này một cách nguyên tắc, nghĩa là từ mặt thực tế này. Dư luận các
nước, trước hết là Mỹ, ủng hộ sáng kiến đó của giới kinh doanh. ở Niu Iooc, người ta bắt đầu chuẩn bị một chuyến đi đặc biệt, nhằm tìm kiếm con
cá thiết hình đó. Chiếc tàu chiến A-bram Lin-côn phải gấp rút ra khơi ngay.
Cửa các kho quân sự được mở ra để cung cấp mọi thứ cần thiết cho thuyền
trưởng Pha-ra-gút, chỉ huy tàu. Nhưng đúng lúc có quyết định trang bị cho
đoàn thám hiểm, thì con cá lại biến mất. Suốt hai tháng trời con cá chẳng
thấy tăm hơi nó đâu. Chẳng một chiếc tàu nào gặp nó. Hình như con cá cảm
thấy người ta đang mưu hại nó. Người ta đã nói đến chuyện đó quá nhiều!
Lại truyền đi bằng cả đường điện tín đặt ngầm dưới Đại Tây Dương nữa!
Những người hay đùa quả quyết rằng con cá xảo quyệt đó đã tóm được bức
điện và đã có những biện pháp đề phòng. Chiếc tàu chiến đã chuẩn bị xong
để đi xa, được trang bị loại đạn bắn cá voi rất mạnh, nhưng sẽ đi hướng nào
thì chẳng ai được biết. Tình trạng căng thẳng đang lên tới đỉnh cao thì bỗng
ngày 2 tháng 7 có tin đồn là chiếc tàu chạy thường xuyên giữa Xan Phranxit-xcô và Thượng Hải ba tuần trước đây đã gặp quái vật ở phía bắc Thái
Bình Dương. Tin đó đã gây một ấn tượng rất mạnh. Thuyền trưởng Pha-ragút chỉ còn không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ để chuẩn bị. Lương thực
đã được chất lên tàu. Các hầm tàu đầy ắp than. Thủy thủ đã tập hợp đông
đủ. Chỉ còn việc đốt lò và nhổ neo! Pha-ra-gút không được phép chậm trễ
dù chỉ mấy giờ! Vả lại, chính Pha-ra-gút cũng nôn nóng muốn ra khơi ngay.
Trước khi tàu Lin-côn nhổ neo ba tiếng đồng hồ, tôi nhận được một bức
thư, nội dung như sau: Kính gửi Ngài A-rô-nắc, giáo sư Viện bảo tàng Pa-ri.
Khách sạn "Đại lộ số 5" Niu I-oóc, Thưa Ngài, Nếu Ngài có ý muốn tham
gia đoàn thám hiểm trên tàu A-bram Lin-côn, thì chính phủ Mỹ sẽ lấy làm
hài lòng về việc Ngài thay mặt nước Pháp đóng góp vào việc này, Thuyền
trưởng Pha-ra-gút sẽ dành cho Ngài một phòng riêng trên tàu. Kính chào
Ngài Bộ trưởng Bộ hàng hải Đ. B. Hốp-Xơn.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 3
Xin Tùy Giáo Sư
Khi nhận được thư của ông Hốp-Xơn, tôi đang vừa nghĩ nhiều về việc
bắt con cá một sừng, vừa nghĩ nhiều về ý định vượt qua những cánh đồng
Tây -Bắc. Tuy vậy, đọc xong thư của ông bộ trưởng, tôi hiểu ngay rằng sứ
mệnh thực sự của tôi, mục đích của cả cuộc đời tôi là phải tiêu diệt được
con quái vật này, không cho nó làm hại mọi người. Tôi vừa kết thúc một
cuộc hành trình gian khổ nên rất mệt mỏi và cần nghỉ ngơi: Tôi rất mong
trở về Tổ quốc, về với bạn bè và căn phòng ở Vườn bách thú, về với những
bộ sưu tập quí giá của tôi! Nhưng không gì có thể ngăn cản tôi tham gia
đoàn thám hiểm này. Sự mệt nhọc, bạn bè, những bộ sưu tập -tất cả đều bị
quên đi! Không cần suy nghĩ nhiều, tôi nhận ngay lời mời của chính phủ
Mỹ. Tôi nghĩ:
K
“Dù thế nào, mọi con đường cũng đều dẫn tới bờ biển nước Pháp! Nó sẽ
giúp ta mang về Viện bảo tàng tự nhiên Pa-ri cái sừng dài không dưới nửa
mét của nó". Nhưng trong khi chờ đợi tương lai xa xôi đó, tôi còn phải tìm
nó ở phía bắc Thái Bình Dương, nói khác đi, là phải đi về phía ngược với
nước Pháp.
-Công-xây!
-Tôi nóng ruột gọi to. Công-xây là người giúp việc tôi và theo tôi đi khắp
nơi. Tôi mến anh ta và anh ta cũng quý tôi. Công-xây tính điềm đạm, trung
thực, cần cù, thường nhìn nhận các bước ngoặt của số phận một cách triết
lý, rất khéo tay và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Trái hẳn với tên gọi, anh ta chẳng bao giờ khuyên ai, ngay cả khi người ta
đến hỏi ý kiến. Vì thường xuyên tiếp xúc với giới khoa học của Vườn bách
thú. Công-xây học tập được nhiều điều. Anh ta chuyên về phân loại tự
nhiên, rất thành thạo về các "kiểu, nhóm, lớp, bộ, họ, giống, loài". Nhưng
kiến thức của anh ta đến đấy cũng là hết. Phân loại là năng khiếu tự nhiên
của Công-xây, anh ta không tiến xa nữa. Nhưng dù sao Công-xây cũng là
người rất tốt. Mười năm nay, Công-xây theo tôi trong tất cả các chuyến đi
nghiên cứu. Tôi chưa hề thấy anh ta kêu ca phàn nàn khi chuyến đi bị kéo
dài hay gặp khó khăn, gian khổ, Công-xây sẵn sàng theo tôi đi bất kỳ nước
nào, dù đó là Trung Quốc hay Công-gô, dù đường xa đến mấy. Ngoài ra,
Công-xây có thể tự hào về sức khỏe hiếm có bất chấp mọi bệnh tật, về
những bắp thịt rắn chắc và một hệ thần kinh rất vững vàng. Công-xây ba
mươi tuổi, so với tuổi tôi thì như mười lăm so với hai mươi. Xin các bạn
thứ lỗi cho cách diễn đạt rắc rối của tôi vì đó chỉ là cách thú nhận rằng tôi
đã bốn mươi tuổi! Nhưng Công-xây có một nhược điểm. Là người câu nệ
hình thức, anh ta bao giờ cũng gọi tôi là "giáo sư", điều đó làm tôi rất bực
mình.
-Công-xây!
-Tôi gọi lần thứ hai và hối hả chuẩn bị lên đường. Tôi rất tin ở lòng trung
thành của Công-xây. Thông thường, tôi không hỏi xem anh ta có đồng ý đi
theo tôi không, nhưng chuyến đi này có thể sẽ kéo dài chưa biết đến bao
giờ, có thể sẽ nguy hiểm, vì đây là cuộc săn bắt một con vật có khả năng
đánh chìm tàu chiến xuống biển như một cái vỏ hạt dẻ! Mọi người dù dửng
dưng đến đâu cũng phải suy nghĩ ít nhiều!
-Công-xây!
-Tôi gọi lần thứ ba. Công-xây xuất hiện.
-Giáo sư gọi tôi ạ?
-Anh ta vừa vào vừa hỏi.
-Đúng vậy, anh bạn ạ. Anh hãy thu xếp đồ đạc của tôi và chuẩn bị cho
mình nữa. Hai giờ nữa chúng ta sẽ lên đường!
-Xin tùy giáo sư, -Công-xây bình thản trả lời.
-Không được lề mề một chút nào! Anh xếp tất cả hành lý, quần áo của tôi
vào va-li, càng nhiều càng nhanh càng tốt.
-Còn những bộ sưu tập của giáo sư thì sao ạ?
-Công-xây hỏi.
-Chúng ta sẽ giải quyết sau.
-Sao lại sau ạ?
-Chúng sẽ được bảo quản ở khách sạn. Rồi tôi sẽ cho gửi về Pháp.
-Thế chúng ta không về Pa-ri ạ?
-ừ... tất nhiên sẽ về... nhưng có lẽ phải đi vòng một chút...
-Xin tùy ý giáo sư. Đi vòng cũng được ạ!
-Vòng một chút thôi! Chúng ta chỉ đi chệch đường thẳng một chút thôi!
Và đi bằng tàu A-bram Lin-côn.
-Xin tùy giáo sư.
-Công-xây ngoan ngoãn trả lời.
-Anh bạn ạ, anh biết không, chúng ta sẽ đi để trừ khử con quái vật, con cá
thiết hình nổi tiếng đó. Tác giả bộ sách "Những bí mật của biển sâu" không
thể từ chối việc đi cùng thuyền trưởng Pha-ra-gút trong chuyến thám hiểm
này được. Nhiệm vụ thực vinh quang nhưng cũng rất nguy hiểm, vì phải
hành động một cách mò mẫm và con quái vật có nhiều điều bí ẩn. Nhưng
dù thế nào, thuyền trưởng của chúng ta cũng sẽ không cho nó thoát!...
-Giáo sư đi đâu, tôi xin đi đó ạ, -Công-xây trả lời.
-Anh cứ nghĩ kỹ đi! Tôi chẳng muốn giấu anh điều gì cả. Tham gia
những cuộc thám hiểm thế này có thể sẽ không trở về đấy.
-Xin tùy giáo sư. Mười lăm phút sau, va-li đã xếp xong. Công-xây chuẩn
bị rất nhanh, có thể bảo đảm là anh chẳng quên gì, vì anh ta xếp quần áo
cũng thạo như phân loại chim và cá vậy. Người phục vụ ở khách sạn mang
hành lý của chúng tôi ra phòng ngoài. Tôi chạy vội xuống tầng dưới, thanh
toán tiền nong ở văn phòng khách sạn, nơi luôn luôn tấp nập khách mới
đến. Tôi yêu cầu chuyển về Pa-ri những kiện hàng gồm tiêu bản động vật và
thực vật đã sấy khô. Sau đó, tôi và Công-xây nhảy lên xe ngựa. Mấy phút
sau, xe đỗ ở bến, nơi tàu Lin-côn đang thả từng cuộn khói dày đặc. Hành lý
của chúng tôi được mang ngay lên boong. Tôi chạy lên tàu và hỏi thuyền
trưởng Pha-ra-gút. Một thủy thủ dẫn tôi đi. Một sĩ quan tư thế hùng dũng
bắt tay tôi và hỏi: -Ngài là Pi-e A-rô-nắc?
-Vâng. Còn ngài là thuyền trưởng Pha-ra-gút?
-Vâng, chính tôi! Xin chào giáo sư! Chúng tôi đã dành cho ngài một
phòng riêng! Tôi đáp lễ và biết thuyền trưởng đang rất bận chuẩn bị cho tàu
nổ máy nhổ neo, tôi chỉ đề nghị cho biết phòng riêng của tôi ở đâu. Tàu
Lin-côn rất thích hợp với nhiệm vụ mới. Đó là một chiếc tàu chiến có
những máy móc tối tân chạy bằng hơi nước có áp suất tới bảy at-mốt-phe.
Với áp suất đó, tàu Lin-côn chạy nhanh mười tám hải lý một giờ. Tốc độ
như vậy là nhanh nhưng tiếc thay vẫn chưa đủ để đuổi bắt con cá khổng lồ
kia. Sự trang trí bên trong tàu cũng tương xứng với những phẩm chất hàng
hải của tàu. Tôi rất hài lòng về căn phòng riêng ở phía lái và thông với
phòng ăn.
-Chúng ta ở đây rất tiện, -tôi bảo Công-xây.
-Thưa giáo sư vâng. Tôi bảo Công-xây mở va-li, xếp ra những đồ dùng
cần thiết còn tôi thì lên boong xem tàu chuẩn bị nhổ neo. Đúng lúc đó,
thuyền trưởng Pha-ra-gút hạ lệnh tháo dây neo tàu Lin-côn ở bến Blúc-lin.
Nếu tôi đến chậm 15 phút, thậm chí ít hơn, thì có lẽ tàu đã lên đường và tôi
sẽ không được tham gia cuộc thám hiểm rất đặc biệt, có một không hai này,
cuộc thám hiểm dù có thuật lại một cách chân thực cũng vẫn bị coi như một
chuyện bịa đặt hoàn toàn. Thuyền trưởng Pha-ra-gút không để mất một
ngày, một giờ nào. ạng ta phải tức tốc tới những vùng biển đã phát hiện ra
quái vật. Pha-ra-gút gọi trưởng máy lên hỏi: -áp suất đã đủ chưa?
-Thưa, đủ.
-Cho tàu chạy!
-Pha-ra-gút ra lệnh. Mệnh lệnh lập tức được truyền xuống buồng máy.
Chân vịt quay ngày càng nhanh. Tàu Lin-côn hùng dũng tiến quân, có hàng
trăm xuồng và tàu kéo chở đầy người tiễn đưa long trọng. Bến tàu Blúc-lin
và tất cả khu vực dọc sông It-ri-vơ của Niu I-ooc chật ních người. Những
tiếng hoan hô từ miệng năm mươi vạn người vang lên không ngớt. Hàng
ngàn khăn tay được tung lên trời cho tới khi tàu Lin-côn ra tới vịnh Hút-dôn
ở mỏm ngoài cùng của bán đảo, nơi thành phố Niu I-ooc đang xây dựng. Ba
giờ chiều. áp lực hơi nước tăng lên, chân vịt quay ngày càng nhanh. Chiếc
tàu chạy dọc theo bờ cát thấp Long Ai-len và tới gần tám giờ sáng thì mở
hết tốc lực vượt trên sóng nước Đại Tây Dương đen thẫm.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 4
Nét Len
Thuyền trưởng Pha-ra-gút là một người đi biển dày kinh nghiệm, thực
xứng đáng với chiếc tàu chiến mà ông ta chỉ huy. Pha-ra-gút với con tàu chỉ
là một. ạng ta là linh hồn của tàu. ạng ta không mảy may nghi ngờ sự tồn tại
của con cá, nhưng cũng không cho phép ai được bàn tán nhảm nhí về vấn
đề đó. ạng ta tin là có con quái vật không phải bằng óc mà bằng tim. Pha-ragút sẽ trừ khử được nó -ông ta thề như vậy.
T
Hoặc là thuyền trưởng Pha-ra-gút sẽ diệt con cá thiết hình, hoặc là con cá
sẽ giết chết Pha-ra-gút. Không thể có sự thỏa hiệp nào! Toàn thể thủy thủ
nhất trí với thuyền trưởng. Điều đó thể hiện rất rõ khi họ bàn luận, tranh cãi
với nhau, khi họ cân nhắc từng khả năng giúp họ tìm ra con quái vật một
cách nhanh chóng nhất, khi họ chăm chú quan sát mặt biển! Ngay cả những
sĩ quan, lúc bình thường vẫn xem việc trực ban là một nhiệm vụ khổ sai, giờ
đây cũng sẵn sàng trực thêm giờ. Về phía thủy thủ thì họ chỉ có một nguyện
vọng: tìm thấy con cá một sừng, bắn trúng nó, kéo lên tàu rồi xả ra từng
mảnh. Họ quan sát mặt biển một cách căng thẳng. Cần nói thêm rằng
thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hứa là sẽ thưởng hai ngàn đô-la cho người nào
phát hiện ra quái vật đầu tiên, không kể là thủy thủ đang học nghề, thủy thủ
hay sĩ quan. Tôi cũng chẳng thua gì mọi người, tôi cũng đứng trên boong
ngày này sang ngày khác. Chỉ có Công-xây là tỏ vẻ dửng dưng trước
chuyện này và không hề có cái tâm trạng bị kích động đang lan tràn trên
tàu. Thuyền trưởng Pha-ra-gút đã trang bị cho tàu của mình tất cả những
thứ cần thiết để đánh con cá voi khổng lồ. Không một chiếc tàu đánh cá voi
nào có thể được trang bị tốt hơn. Trên tàu Lin-côn có tất cả các thứ đạn bắn
cá voi hiện đại nhất, từ loại đạn giống mũi tên nhọn phóng đi bằng tay, đến
các loại đạn phá bắn bằng súng nòng dài. Phía mũi tàu có một cỗ đại bác
kiểu cải tiến bắn loại đạn hình nón nặng bốn ki-lô-gam đi xa mười sáu kilô-mét. Tóm lại, tàu Lin-côn được trang bị tất cả các loại vũ khí ghê gớm
nhất. Nhưng chưa hết! Trên tàu còn có Nét Len -"vua" bắn cá voi. Nét Len,
gốc Ca-na-đa, là thợ săn cá voi giỏi tuyệt vời. Anh ta chưa hề gặp đối thủ
trong cái nghề nguy hiểm của mình. ở Nét Len, sự khéo léo và bình tĩnh,
lòng can đảm và sự nhanh trí đã kết hợp với nhau một cách cân đối. Cá voi
hay cá nhà táng phải quỷ quyệt ranh ma lắm mới thoát được phát đạn của
anh ta. Nét Len khoảng gần bốn mươi tuổi. Anh ta cao lớn, vạm vỡ, vẻ mặt
khắc khổ, ít cởi mở, nóng tính, nên hơi một chút là nổi giận đùng đùng. Vẻ
bề ngoài của anh ta làm mọi người chú ý, đặc biệt là đôi mắt cương nghị.
Tôi cho rằng thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hành động đúng khi mời Nét Len
tham gia cuộc tìm kiếm. Cánh tay rắn chắc và đôi mắt tinh tường của anh ta
cũng bằng tất cả đội thủy thủ rồi. Có thể ví Nét Len như một cái kính viễn
vọng đồng thời là một khẩu đại bác luôn luôn sẵn sàng nhả đạn. Người Cana-đa thì cũng là người P...
Jules Verne
Mục Lục
Mục Lục
Chương 1
Chương 2: Tán Thành Và Phản Đối
Chương 3: Xin Tùy Giáo Sư
Chương 4: Nét Len
Chương 5: May Rủi
Chương 6: Mở Hết Tốc Lực
Chương 7: Con Cá Voi Không Biết Thuộc Loại Nào
Chương 8: Mobilis In Mobile
Chương 9: Nét Len Nổi Khùng
Chương 10: Người Chủ Của Biển Cả
Chương 11: Tàu\ "Nau-ti-lúx\ "
Chương 12: Tất Cả Đều Chạy Bằng Điện!
Chương 13: Vài Con Số
Chương 14: Dòng\ "Sông Đen\ "
Chương 15: Giấy Mời
Chương 16: Dạo Chơi Dưới Đáy Biển
Chương 17: Khu Rừng Dưới Biển
Chương 18: Bốn Ngàn Dặm Dưới Thái Bình Dương
Chương 19: Va-ni-cô-rô
Chương 20: Eo Biển Tô-rex
Chương 21: Mấy Ngày Trên Đảo
Chương 22: Tiếng Sét Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 23: Cơn Ngủ Không Thể Giải Thích Được
Chương 24: Vương Quốc San Hô
Chương 25: Ấn Độ Dương
Chương 26: Đề Nghị Mới Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 27: Viên Ngọc Giá Mười Triệu
Chương 28: Biển Đỏ
Chương 29: Đường Ngầm A-ra-bi-a
Chương 30: Quần Đảo Hy Lạp
Chương 31: Bốn Mươi Tám Giờ Qua Địa Trung Hải
Chương 32: Vũng Biển Vi-gô
Chương 33: Một Lục Địa Đã Biến Mất
Chương 34: Mỏ Than Ngầm Dưới Biển
Chương 35: Biển Xác-gax
Chương 36: Cá Nhà Táng Và Cá Voi
Chương 37: Băng Giá Mênh Mông
Chương 38: Nam Cực
Chương 39: Một Trở Ngại Ngẫu Nhiên Hay Một Trường Hợp Rủi Ro
Chương 40: Thiếu Không Khí
Chương 41: Từ Mũi Hoóc Đến A-ma-dôn
Chương 42: Bạch Tuộc
Chương 43: Hải Lưu Gơn-xtơ-rim
Chương 44: Độ Vĩ 47o24' Và Độ Kinh 17o28'
Chương 45: Nghĩa Địa Khổng Lồ
Chương 46: Những Lời Cuối Cùng Của Thuyền Trưởng Nê-mô
Chương 47: Kết Luận
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 1
Năm 1866 được đánh dấu bằng một sự kiện kỳ lạ, một hiện tượng không
được giải thích và không thể giải thích nổi mà chắc chưa ai quên. Những lời
đồn đại về hiện tượng bí hiểm đó chẳng những làm nhân dân các thành phố
cảng và các lục địa xôn xao, mà còn gây hoang mang lớn trong đám thủy
thủ. Cánh lái buôn, chủ tàu, thuyền trưởng ở châu Œu và châu Mỹ, các sĩ
quan hải quân các nước, và sau đó nhiều chính phủ ở cả hai châu đều hết
sức lo lắng về sự kiện này. Số là thời gian gần đây, nhiều tàu buôn đi biển
thường gặp một vật hình thoi dài đôi khi sáng lấp lánh, vượt xa cá voi về
kích thước và tốc độ di chuyển. Những lời ghi trong nhật ký của các con tàu
đó giống nhau một cách lạ lùng về sự miêu tả hình dáng bên ngoài, về tốc
độ ghê gớm và sức mạnh của vật đó, cũng như về thái độ đặc biệt của nó.
Nếu đó là một loại cá voi thì theo sự miêu tả, nó lớn hơn tất cả những con
cá voi đã được khoa học biết đến. Không một nhà khoa học nào có thể tin
được hiện tượng kỳ lạ này nếu không được nhìn thấy nó tận mắt. Nếu bỏ
qua những sự đánh giá quá dè dặt cho rằng con quái vật không dài quá sáu
mươi mét và gạt đi những lời thổi phồng quá đáng miêu tả nó như một con
vật khổng lồ rộng một hải lý, dài ba hải lý, thì ta vẫn phải thừa nhận rằng
quái vật, nếu có thật, nhất định vượt quá những kích thước đã được các nhà
động vật học ghi nhận. Con người vốn cả tin những điều huyền hoặc, nên ta
cũng dễ hiểu rằng hiện tượng kỳ lạ này đã làm họ xao xuyến thế nào. Một
số người đã tìm cách xếp tất cả các câu chuyện đó vào một loại bịa đặt hão
huyền, nhưng vô ích! Con vật kia vẫn tồn tại, điều đó không còn nghi ngờ
gì nữa. Ngày 20 tháng 7 năm 1866, chiếc tàu Ga-vớc-nơ Hi-ghin-xơn của
công ty tàu biển Can-cút-ta-en Béc-nắc đã gặp một vật nổi khổng lồ cách bờ
biển phía đông úc năm hải lý. Thoạt tiên, thuyền trưởng Bê-cơ đinh ninh
rằng mình phát hiện ra một dải đá ngầm chưa được ghi trên bản đồ. ạng ta
vừa bắt đầu xác định tọa độ của dải đá, thì từ trong lòng cái khối màu đen
ấy bỗng vọt lên hai cột nước cao hơn bốn mươi mét. Vì sao vậy? Đó là một
dải đá mạch nước ngầm? Hay đó chỉ là một động vật có vú sống dưới biển
phun không khí từ mũi ra làm vọt lên những luồng nước?
N
Ngày 23 tháng 7 năm đó, tàu Cri-xtô-ban Cô-lôn của Công ty tàu biển
Đông ấn lại thấy hiện tượng này ở vùng biển Thái Bình Dương. Xưa nay
đâu có chuyện cá voi bơi với tốc độ lạ thường như vậy? Chỉ trong ba ngày
mà hai chiếc tàu gặp nó ở hai điểm cách nhau trên bảy trăm dặm. Mười lăm
ngày sau, cách nơi nói trên hai ngàn dặm, tàu Hen-vê-xi-a của Công ty tàu
biển Quốc gia và tàu Sa-nơn của Công ty Roi-ơn Mây-lơ trên đường đi giữa
châu Mỹ và châu Œu gặp nhau ở Đại Tây Dương, đã phát hiện ra quái vật ở
42, 15 độ vĩ bắc và 60, 35 độ kinh về phía tây kinh tuyến Grin-uýt. Hai tàu
cũng quan sát và xác định được bằng mắt, là con vật có vú, dài ít nhất hơn
một trăm mét. Họ xác định được như vậy là vì hai tàu đều nhỏ hơn con vật,
mặc dù cả hai đều dài một trăm mét. Giống cá voi khổng lồ ở vùng đảo Alê-út cũng không thể dài quá năm mươi mét. Những tin tức này dồn dập bay
về, những thông báo mới của tàu Pê-rê vượt Đại Tây Dương, cuộc chạm
trán giữa quái vật với tàu ét-na, biên bản của các sĩ quan trên chiếc tàu
chiến Pháp Noóc-măng-đi và bản báo cáo tỉ mỉ của Phít-xơ Giêm-xơ,
thuyền trưởng tàu Lo Clai-đơ -tất cả những cái đó đã làm náo động dư luận.
ở những nước hay suy nghĩ hồ đồ thì hiện tượng kỳ lạ này là đề tài vô tận
cho những chuyện bông đùa, nhưng những nước chín chắn hơn và có đầu
óc thực tế như Anh, Mỹ, Đức thì hết sức quan tâm đến chuyện này. ở thủ đô
các nước, con quái vật đã trở thành "mốt": người ta hát về nó trong các tiệm
cà phê, nhạo báng nó trên báo chí, đưa nó lên sân khấu. Vớ được dịp may
hiếm có, mấy tờ lá cải tha hồ tung tin vịt. Họ dựng lên đủ loại quái vật
hoang đường, từ con cá voi trắng khủng khiếp ở các nước vùng Bắc cực đến
những con bạch tuộc gớm ghiếc có thể dùng vòi cuốn cả tàu chở nặng năm
trăm tấn dìm xuống đáy biển. Trong các hội nghiên cứu và các tạp chí khoa
học nổi lên một cuộc tranh luận ồn ào không dứt giữa những người tin và
không tin.
Các nhà báo, những người yêu khoa học trong cuộc tranh cãi với đối
phương, đã phải đổ biết bao nhiêu mực thậm chí một số đã đổ cả máu vì
cuộc đấu khẩu về con rắn biển đó dẫn tới những trận đấu chân đấu tay thực
sự! Cuộc "chiến tranh" này đã kéo dài suốt sáu tháng ròng không phân
thắng bại... Mấy tháng đầu năm 1867, câu chuyện quái vật hình như đã bị
chôn vùi và chẳng cần gợi lại làm gì. Nhưng những sự kiện mới lại lan
truyền trong công chúng. Bây giờ không còn là chuyện giải quyết một vấn
đề khoa học thú vị nữa, mà là một nguy cơ nghiêm trọng. Quái vật đó đã
biến thành một hòn đảo, một dải đá ngầm di động, bí hiểm, không thể bắt
được! Mùng năm tháng ba năm 1867, tàu Mô-ra-vi-an của Công ty tàu biển
Mông-rê-an đang chạy nhanh ở 27, 30 độ vĩ và 72, 15 độ kinh bỗng đâm
phải một dải đá ngầm không thấy ghi trên một bản đồ hoa tiêu nào. Nhờ gió
thuận và động cơ mạnh bốn trăm sức ngựa, chiếc tàu chạy với tốc độ mười
ba hải lý một giờ. Tàu đâm mạnh đến nỗi nếu vỏ tàu không thật vững vàng
thì nhất định sẽ bị đắm cùng với hai trăm ba mươi bảy thủy thủ và hành
khách từ Ca-na-đa về. Cuộc va chạm xảy ra lúc rạng đông, khoảng năm giờ
sáng. Các sĩ quan trực nhật lao tới mũi tàu. Họ xem xét rất kỹ mặt biển,
nhưng chẳng thấy gì đáng nghi ngờ, ngoài một đợt sóng to nổi lên cách đó
hơn nửa ki-lô-mét. Xác định tọa độ xong, tàu Mô-ra-vi-an lại tiếp tục hành
trình mà không thấy chỗ nào bị hư hại. Nó đã va phải cái gì vậy? Một dải đá
ngầm hay xác một chiếc tàu bị đắm? Chẳng ai biết cả. Nhưng sau đó, khi
xem xét phần dưới của tàu ở xưởng sửa chữa, người ta thấy một bộ phận
của lòng tàu bị hư hại. Sự kiện nghiêm trọng này chắc cũng có thể bị lãng
quên nhanh chóng như nhiều sự kiện khác tương tự, nếu ba tuần sau đó nó
không được lặp lại trong những điều kiện y hệt. Và cũng do chiếc tàu mang
cờ một cường quốc và thuộc một công ty hàng hải nên tin xảy ra tai nạn
được truyền đi rất rộng...
Ngày 13 tháng 4 năm 1867, tàu Xcốt-len cũng thuộc công ty nói trên
đang ở 15, 37 độ kinh và 45, 37 độ vĩ. Biển lặng, gió nhẹ. Nhờ động cơ rất
mạnh, tàu chạy hơn mười ba hải lý một giờ. Guồng bánh quay đều trong
sóng biển. Bốn giờ mười bảy phút chiều, khi hành khách đang ăn trong
phòng ăn thì thân tàu bỗng rung lên vì va nhẹ vào một vật gì đó ở phía lái,
sau guồng bên trái một chút. Xét tính chất của va chạm, có thể đoán là tàu
vừa bị một vật nhọn đâm vào. Nhưng có lẽ cũng chẳng ai chú ý tới sự việc
đó nhiều, nếu thợ đốt lò không chạy lên boong và kêu ầm lên: -Hầm tàu bị
thủng! Hầm tàu bị thủng! Trong giây phút đầu, hành khách hoang mang
nhốn nháo, nhưng thuyền trưởng An-đớc-xơn đã làm họ bình tĩnh lại. Thực
ra tàu không bị đe dọa gì. Vì nó được chia thành bảy ngăn riêng biệt không
thấm nước, nên một chỗ rò rỉ nhỏ chẳng đáng sợ. An-đớc-xơn lập tức xuống
hầm tàu. ạng ta thấy ngăn số năm bị ngập nước. Căn cứ vào tốc độ nước ùa
vào, thì lỗ thủng ở thân tàu khá to. Cũng may là ở ngăn này không có nồi
hơi, nếu có thì đã bị tắt ngấm. An-đớc-xơn ra lệnh tắt máy và cử một thuỷ
thủ lặn xuống nước xem xét chỗ thủng. Mấy phút sau xác định được rằng
phần dưới thân tàu có một lỗ thủng rộng hai mét. Vì không có khả năng bịt
kín chỗ đó nên tàu Xcốt-len phải tiếp tục hành trình, để guồng bánh xe ngập
một nửa xuống nước. Tai nạn xảy ra cách mũi Cle ba trăm hải lý. Thế là tàu
Xcốt-len cập bến Li-vớc-pun chậm mất ba ngày, làm mọi người hết sức lo
lắng. Tàu được đưa vào xưởng sửa chữa để các kỹ sư xem xét. Họ không tin
ở mắt mình nữa! ở thân tàu, dưới mặt nước hai mét rưỡi, có một lỗ thủng
hình tam giác cân. Ba cạnh của lỗ thủng rất nhẵn, tựa như bị kéo cắt. Rõ
ràng là vật chọc thủng thân tàu phải có độ rắn rất cao. Hơn nữa sau khi
xuyên qua lá thép dày bốn cen-ti-mét, nó tự rút ra được. Sự việc đó không
ai giải thích nổi!
Từ ngày đó, tất cả những tai nạn ngoài biển mà không có nguyên nhân
đều quy cả cho quái vật. Nó phải chịu trách nhiệm về nhiều vụ đắm tàu.
Đáng tiếc rằng số tàu bị đắm khá lớn và ít nhất có hai trăm trong số tàu đắm
được coi là "mất tích". Dù sao thì cũng do quái vật mà giao thông giữa các
lục địa ngày càng nguy hiểm. Dư luận tha thiết yêu cầu phải trừ khử quái
vật đó bằng bất kỳ giá nào.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 2
Tán Thành Và Phản Đối
Khi xảy ra những việc vừa kể trên thì tôi đã hoàn thành công việc nghiên
cứu ở bang Nê-brát-xca (bắc Mỹ) và đang quay về. Chính phủ Pháp cử tôi
vào đoàn nghiên cứu khoa học với tư cách là phó giáo sư của Viện bảo tàng
lịch sử tự nhiên Pa-ri. Sau khi đã đi khắp miền Nê-brát-xca trong sáu tháng
và thu thập được những bộ hiện vật hết sức quý giá, cuối tháng ba tôi về tới
Niu I-ooc. Tôi dự định sẽ lên đường về Pháp vào đầu tháng năm. Vì vậy,
mấy ngày rỗi rãi còn lại trước khi xuống tàu, tôi dành để xếp loại những bộ
sưu tập về khoáng vật, thực vật và động vật của tôi. Chính lúc đó tàu Xcốtlen gặp nạn. Tất nhiên tôi theo dõi sát mọi việc đã làm dư luận xôn xao. Tôi
đã đọc đi đọc lại tất cả những báo chí châu Mỹ và Châu Œu, nhưng những
cái đó cũng chẳng soi sáng gì thêm cho vấn đề đang làm mọi người thắc
mắc. Câu chuyện bí hiểm đã kích thích tính tò mò của tôi...
K
Tôi tới Niu I-ooc đúng lúc đang nổi lên những cuộc tranh cãi gay gắt
xung quanh câu chuyện này. Những giả thiết về hòn đảo di động, về dải đá
ngầm do những người ít thẩm quyền đề ra, đã bị vứt bỏ hoàn toàn. Thật vậy
"dải đá ngầm" sao có thể di chuyển với tốc độ như vậy nếu nó không có
máy móc cực mạnh? Giả thiết cho rằng đó là xác một chiếc tàu khổng lồ bị
đắm trôi đi với tốc độ ghê gớm như vậy cũng bị gạt bỏ. Còn lại hai giả thiết
có người ủng hộ: một số người cho rằng mọi sự bất hạnh đều do một con
vật khổng lồ gây ra; một số khác thì cho rằng đó là một chiếc tàu ngầm có
động cơ cực mạnh. Giả thiết cuối cùng đó có vẻ gần sự thật hơn cả, nhưng
lại bị bác bỏ sau những cuộc điều tra ở cả hai bán cầu. Khó có thể tin rằng
một tư nhân nào lại có được một chiếc tàu như vậy. Nó đã được đóng bao
giờ và ở đâu? Và việc đóng một chiếc tàu khổng lồ như vậy làm sao có thể
giữ kín được? Chỉ nhà nước mới có thể chế tạo ra những loại máy có sức
phá hoại ghê gớm như vậy. ở thời đại chúng ta, khi trí tuệ con người rất
thành thạo trong việc sáng chế ra những công cụ giết người thì cũng dễ tin
được rằng có một nước nào đó đã bí mật chế tạo và đem thử chiếc tàu
khủng khiếp này. Nhưng cuối cùng giả thiết về một chiếc tàu ngầm quân sự
đã đổ sụp, vì tất cả các chính phủ đều tuyên bố là không dính dáng gì đến
chuyện này. Không thể nghi ngờ được sự thành thật của những bản tuyên bố
đó, vì các đường biển quốc tế đều bị đe dọa. Hơn nữa, việc đóng một chiếc
tàu ngầm khổng lồ như vậy không thể thoát khỏi sự chú ý của dư luận. Giữ
bí mật trong những điều kiện như vậy đối với tư nhân đã hết sức khó, còn
đối với từng nước là điều không tưởng vì mỗi hành động của họ đều bị các
cường quốc đối địch theo dõi gắt gao. Thế là sau khi điều tra ở các nước
Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Mỹ và cả Thổ nữa, giả thiết
về tàu ngầm đã phá sản hoàn toàn. Mặc dù bị những tờ báo lá cải chế giễu,
con quái vật kia lại nổi lên mặt nước. óc tưởng tượng được kích động lại vẽ
nên những bức tranh vô lý nhất trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng. Về tới
Niu I-ooc, tôi có vinh dự được nhiều người đến hỏi ý kiến về vấn đề này. ở
Pháp tôi có cho xuất bản cuốn sách in thành hai tập, nhan đề "Những bí mật
của biển sâu". Cuốn sách đó được giới khoa học hoan nghênh và đã khiến
tôi trở thành chuyên gia nổi tiếng về một lĩnh vực ít được nghiên cứu của
lịch sử tự nhiên. Người ta yêu cầu tôi phát biểu ý kiến về vấn đề này.
Nhưng trong tay tôi không có một tài liệu cụ thể nào nên tôi từ chối, lấy cớ
là hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Tuy nhiên, bị dồn vào chân tường, tôi
đành phải nói lên phán đoán của mình. Và cuối cùng, "Tôn ông A-rô-nắc",
giáo sư viện bảo tàng Pa-ri, mà các phóng viên báo Niu I-oóc Hê-rơn yêu
cầu "phát biểu ý kiến" phải đầu hàng. Tôi lên tiếng vì im lặng mãi cũng
không tiện. Tôi xem xét vấn đề về cả mọi mặt chính trị và khoa học.
Tôi xin trích ra đây mấy đoạn trong bài báo đăng ngày 30-4: “Sau khi cân
nhắc từng giả thiết đã được đề ra và không có những giả thiết khác vững
chắc hơn, chúng ta đành thừa nhận sự tồn tại của một con vật sống dưới
biển có sức mạnh phi thường. Những lớp nước sâu của đại dương hầu như
chưa được nghiên cứu. Chưa một cuộc thăm dò nào xuống được tới những
lớp nước đó. Cái gì đang xảy ra dưới vực thẳm chưa ai biết đến ấy? Những
sinh vật nào đang sống và có thể sống ở độ sâu mười hai, hay mười lăm hải
lý dưới mặt biển? Cơ thể của chúng ra sao? Bất kỳ giả thiết nào cũng chỉ là
phỏng đoán mà thôi. Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta có thể giải quyết bằng
hai cách: Hoặc là chúng ta đã biết hết các loài sinh vật sống trên hành tinh
chúng ta, hoặc là chưa biết hết. Nếu ta chưa biết hết, nếu trong lĩnh vực ngư
học, thiên nhiên còn giấu ta nhiều điều bí mật, thì chẳng có cơ sở nào để
không thừa nhận sự tồn tại của những con cá, hay động vật có vú thuộc
những giống, loài mà ta chưa biết, những sinh vật đặc biệt sống được ở các
lớp nước sâu; chỉ thỉnh thoảng mới nổi lên mặt biển do tác động của các
Quy luật vật lý nào đó, hoặc do tính khí bất thường của thiên nhiên. Trái lại,
nếu ta đã biết hết các loài động vật, thì cần tìm kiếm con vật nói trên trong
số những con vật biển đã được phân loại, trong trường hợp này, tôi sẵn sàng
cho rằng đây là một con cá thiết hình khổng lồ. Cá thiết hình bình thường,
hay cá một sừng, dài tới mười tám mét. Hãy nhân kích thước nó lên năm
lần, mười lần, hãy cho nó một sức mạnh, một cái sừng cân xứng với thân
hình nó. Như vậy các bạn sẽ hình dung được con quái vật! Nó sẽ có kích
thước mà các sĩ quan tàu Sa-nơn cho biết, có cái sừng nhọn đâm thủng
được tàu Xcốt-len và các tàu vượt đại dương khác. Cá thiết hình có một
sừng lớn sắc như gươm và rắn như thép. Người ta đã nhiều lần thấy những
vết thương trên mình cá voi là loại động vật mà bao giờ cá thiết hình cũng
đánh thắng.
Nhiều khi người ta lấy được những mảnh vụn của sừng cá ở vỏ tàu bằng
gỗ bị đâm thủng. Viện bảo tàng của Đại học y khoa Pa-ri có một cái sừng cá
thiết hình dài hai mét hai mươi lăm cen-ti-mét, chu vi chỗ to nhất là bốn
mươi tám cen-ti-mét. Chúng ta hãy hình dung một cái sừng lớn hơn mười
lần, con cá mạnh hơn mười lần, bơi nhanh hai mươi nhăm hải lý một giờ,
hãy nhân khối lượng của con cá với tốc độ của nó, thì sẽ hiểu được nguyên
nhân gây ra tai nạn. Tóm lại, trong khi chờ đợi những tin tức đầy đủ hơn,
tôi nghiêng về ý kiến cho rằng đây là một con cá thiết hình khổng lồ có
sừng nhọn, lớn như những tàu chiến bọc thép và cũng di chuyển nhanh như
vậy. Tôi xin giải thích hiện tượng bí hiểm này như trên, nhưng với điều kiện
là nó phải có thực chứ không phải là chuyện bịa đặt (điều này cũng có thể
xảy ra)." Những lời cuối cùng là mưu mẹo của tôi: tôi muốn giữ uy tín của
nhà bác học và không muốn cho dân Mỹ, một dân tộc hay đùa cợt, có cớ để
nhạo báng. Tôi đã để lại một con đường để rút lui. Thực lòng tôi rất tin rằng
đây là một quái vật. Bài báo của tôi đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi
và được nhiều người đọc. Có cả những người tán thành tôi. Cách giải quyết
vấn đề do tôi đề nghị, cho phép người ta được hoàn toàn tự do tưởng tượng.
Trí tuệ con người được thỏa thích tạo nên hình tượng những con vật khổng
lồ, mà những động vật trên trái đất như: voi, tê giác, nếu đứng cạnh chỉ là
những chú chim chích. Môi trường nước sản ra những loài có vú rất lớn, có
lẽ cả những loài nhuyễn thể khổng lồ, những loài giáp xác khủng khiếp,
những con cua nặng hai trăm tấn! Đã có một thời, những động vật trên trái
đất, những loài bốn chân bốn tay, bò sát và chim đều có hình thù đồ sộ. Sau
đó thời gian đã rút ngắn kích thước của chúng lại. Vì sao ta không thể cho
rằng dưới các lớp biển sâu chưa được nghiên cứu còn bảo tồn được những
động vật khổng lồ của những thời kỳ xa xưa nhất?
Nhưng nếu tất cả câu chuyện huyền bí đó đối với một số người chỉ có ý
nghĩa thuần túy khoa học, thì những người có đầu óc thực tế hơn, đặc biệt là
người Mỹ và người Anh, lại rất lo lắng đến sự an toàn của các đường giao
thông vượt đại dương và đặt việc trừ khử con quái vật ra một cách cấp thiết.
Báo chí đại diện quyền lợi của các giới công nghiệp và tài chính xem xét
vấn đề này một cách nguyên tắc, nghĩa là từ mặt thực tế này. Dư luận các
nước, trước hết là Mỹ, ủng hộ sáng kiến đó của giới kinh doanh. ở Niu Iooc, người ta bắt đầu chuẩn bị một chuyến đi đặc biệt, nhằm tìm kiếm con
cá thiết hình đó. Chiếc tàu chiến A-bram Lin-côn phải gấp rút ra khơi ngay.
Cửa các kho quân sự được mở ra để cung cấp mọi thứ cần thiết cho thuyền
trưởng Pha-ra-gút, chỉ huy tàu. Nhưng đúng lúc có quyết định trang bị cho
đoàn thám hiểm, thì con cá lại biến mất. Suốt hai tháng trời con cá chẳng
thấy tăm hơi nó đâu. Chẳng một chiếc tàu nào gặp nó. Hình như con cá cảm
thấy người ta đang mưu hại nó. Người ta đã nói đến chuyện đó quá nhiều!
Lại truyền đi bằng cả đường điện tín đặt ngầm dưới Đại Tây Dương nữa!
Những người hay đùa quả quyết rằng con cá xảo quyệt đó đã tóm được bức
điện và đã có những biện pháp đề phòng. Chiếc tàu chiến đã chuẩn bị xong
để đi xa, được trang bị loại đạn bắn cá voi rất mạnh, nhưng sẽ đi hướng nào
thì chẳng ai được biết. Tình trạng căng thẳng đang lên tới đỉnh cao thì bỗng
ngày 2 tháng 7 có tin đồn là chiếc tàu chạy thường xuyên giữa Xan Phranxit-xcô và Thượng Hải ba tuần trước đây đã gặp quái vật ở phía bắc Thái
Bình Dương. Tin đó đã gây một ấn tượng rất mạnh. Thuyền trưởng Pha-ragút chỉ còn không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ để chuẩn bị. Lương thực
đã được chất lên tàu. Các hầm tàu đầy ắp than. Thủy thủ đã tập hợp đông
đủ. Chỉ còn việc đốt lò và nhổ neo! Pha-ra-gút không được phép chậm trễ
dù chỉ mấy giờ! Vả lại, chính Pha-ra-gút cũng nôn nóng muốn ra khơi ngay.
Trước khi tàu Lin-côn nhổ neo ba tiếng đồng hồ, tôi nhận được một bức
thư, nội dung như sau: Kính gửi Ngài A-rô-nắc, giáo sư Viện bảo tàng Pa-ri.
Khách sạn "Đại lộ số 5" Niu I-oóc, Thưa Ngài, Nếu Ngài có ý muốn tham
gia đoàn thám hiểm trên tàu A-bram Lin-côn, thì chính phủ Mỹ sẽ lấy làm
hài lòng về việc Ngài thay mặt nước Pháp đóng góp vào việc này, Thuyền
trưởng Pha-ra-gút sẽ dành cho Ngài một phòng riêng trên tàu. Kính chào
Ngài Bộ trưởng Bộ hàng hải Đ. B. Hốp-Xơn.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 3
Xin Tùy Giáo Sư
Khi nhận được thư của ông Hốp-Xơn, tôi đang vừa nghĩ nhiều về việc
bắt con cá một sừng, vừa nghĩ nhiều về ý định vượt qua những cánh đồng
Tây -Bắc. Tuy vậy, đọc xong thư của ông bộ trưởng, tôi hiểu ngay rằng sứ
mệnh thực sự của tôi, mục đích của cả cuộc đời tôi là phải tiêu diệt được
con quái vật này, không cho nó làm hại mọi người. Tôi vừa kết thúc một
cuộc hành trình gian khổ nên rất mệt mỏi và cần nghỉ ngơi: Tôi rất mong
trở về Tổ quốc, về với bạn bè và căn phòng ở Vườn bách thú, về với những
bộ sưu tập quí giá của tôi! Nhưng không gì có thể ngăn cản tôi tham gia
đoàn thám hiểm này. Sự mệt nhọc, bạn bè, những bộ sưu tập -tất cả đều bị
quên đi! Không cần suy nghĩ nhiều, tôi nhận ngay lời mời của chính phủ
Mỹ. Tôi nghĩ:
K
“Dù thế nào, mọi con đường cũng đều dẫn tới bờ biển nước Pháp! Nó sẽ
giúp ta mang về Viện bảo tàng tự nhiên Pa-ri cái sừng dài không dưới nửa
mét của nó". Nhưng trong khi chờ đợi tương lai xa xôi đó, tôi còn phải tìm
nó ở phía bắc Thái Bình Dương, nói khác đi, là phải đi về phía ngược với
nước Pháp.
-Công-xây!
-Tôi nóng ruột gọi to. Công-xây là người giúp việc tôi và theo tôi đi khắp
nơi. Tôi mến anh ta và anh ta cũng quý tôi. Công-xây tính điềm đạm, trung
thực, cần cù, thường nhìn nhận các bước ngoặt của số phận một cách triết
lý, rất khéo tay và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Trái hẳn với tên gọi, anh ta chẳng bao giờ khuyên ai, ngay cả khi người ta
đến hỏi ý kiến. Vì thường xuyên tiếp xúc với giới khoa học của Vườn bách
thú. Công-xây học tập được nhiều điều. Anh ta chuyên về phân loại tự
nhiên, rất thành thạo về các "kiểu, nhóm, lớp, bộ, họ, giống, loài". Nhưng
kiến thức của anh ta đến đấy cũng là hết. Phân loại là năng khiếu tự nhiên
của Công-xây, anh ta không tiến xa nữa. Nhưng dù sao Công-xây cũng là
người rất tốt. Mười năm nay, Công-xây theo tôi trong tất cả các chuyến đi
nghiên cứu. Tôi chưa hề thấy anh ta kêu ca phàn nàn khi chuyến đi bị kéo
dài hay gặp khó khăn, gian khổ, Công-xây sẵn sàng theo tôi đi bất kỳ nước
nào, dù đó là Trung Quốc hay Công-gô, dù đường xa đến mấy. Ngoài ra,
Công-xây có thể tự hào về sức khỏe hiếm có bất chấp mọi bệnh tật, về
những bắp thịt rắn chắc và một hệ thần kinh rất vững vàng. Công-xây ba
mươi tuổi, so với tuổi tôi thì như mười lăm so với hai mươi. Xin các bạn
thứ lỗi cho cách diễn đạt rắc rối của tôi vì đó chỉ là cách thú nhận rằng tôi
đã bốn mươi tuổi! Nhưng Công-xây có một nhược điểm. Là người câu nệ
hình thức, anh ta bao giờ cũng gọi tôi là "giáo sư", điều đó làm tôi rất bực
mình.
-Công-xây!
-Tôi gọi lần thứ hai và hối hả chuẩn bị lên đường. Tôi rất tin ở lòng trung
thành của Công-xây. Thông thường, tôi không hỏi xem anh ta có đồng ý đi
theo tôi không, nhưng chuyến đi này có thể sẽ kéo dài chưa biết đến bao
giờ, có thể sẽ nguy hiểm, vì đây là cuộc săn bắt một con vật có khả năng
đánh chìm tàu chiến xuống biển như một cái vỏ hạt dẻ! Mọi người dù dửng
dưng đến đâu cũng phải suy nghĩ ít nhiều!
-Công-xây!
-Tôi gọi lần thứ ba. Công-xây xuất hiện.
-Giáo sư gọi tôi ạ?
-Anh ta vừa vào vừa hỏi.
-Đúng vậy, anh bạn ạ. Anh hãy thu xếp đồ đạc của tôi và chuẩn bị cho
mình nữa. Hai giờ nữa chúng ta sẽ lên đường!
-Xin tùy giáo sư, -Công-xây bình thản trả lời.
-Không được lề mề một chút nào! Anh xếp tất cả hành lý, quần áo của tôi
vào va-li, càng nhiều càng nhanh càng tốt.
-Còn những bộ sưu tập của giáo sư thì sao ạ?
-Công-xây hỏi.
-Chúng ta sẽ giải quyết sau.
-Sao lại sau ạ?
-Chúng sẽ được bảo quản ở khách sạn. Rồi tôi sẽ cho gửi về Pháp.
-Thế chúng ta không về Pa-ri ạ?
-ừ... tất nhiên sẽ về... nhưng có lẽ phải đi vòng một chút...
-Xin tùy ý giáo sư. Đi vòng cũng được ạ!
-Vòng một chút thôi! Chúng ta chỉ đi chệch đường thẳng một chút thôi!
Và đi bằng tàu A-bram Lin-côn.
-Xin tùy giáo sư.
-Công-xây ngoan ngoãn trả lời.
-Anh bạn ạ, anh biết không, chúng ta sẽ đi để trừ khử con quái vật, con cá
thiết hình nổi tiếng đó. Tác giả bộ sách "Những bí mật của biển sâu" không
thể từ chối việc đi cùng thuyền trưởng Pha-ra-gút trong chuyến thám hiểm
này được. Nhiệm vụ thực vinh quang nhưng cũng rất nguy hiểm, vì phải
hành động một cách mò mẫm và con quái vật có nhiều điều bí ẩn. Nhưng
dù thế nào, thuyền trưởng của chúng ta cũng sẽ không cho nó thoát!...
-Giáo sư đi đâu, tôi xin đi đó ạ, -Công-xây trả lời.
-Anh cứ nghĩ kỹ đi! Tôi chẳng muốn giấu anh điều gì cả. Tham gia
những cuộc thám hiểm thế này có thể sẽ không trở về đấy.
-Xin tùy giáo sư. Mười lăm phút sau, va-li đã xếp xong. Công-xây chuẩn
bị rất nhanh, có thể bảo đảm là anh chẳng quên gì, vì anh ta xếp quần áo
cũng thạo như phân loại chim và cá vậy. Người phục vụ ở khách sạn mang
hành lý của chúng tôi ra phòng ngoài. Tôi chạy vội xuống tầng dưới, thanh
toán tiền nong ở văn phòng khách sạn, nơi luôn luôn tấp nập khách mới
đến. Tôi yêu cầu chuyển về Pa-ri những kiện hàng gồm tiêu bản động vật và
thực vật đã sấy khô. Sau đó, tôi và Công-xây nhảy lên xe ngựa. Mấy phút
sau, xe đỗ ở bến, nơi tàu Lin-côn đang thả từng cuộn khói dày đặc. Hành lý
của chúng tôi được mang ngay lên boong. Tôi chạy lên tàu và hỏi thuyền
trưởng Pha-ra-gút. Một thủy thủ dẫn tôi đi. Một sĩ quan tư thế hùng dũng
bắt tay tôi và hỏi: -Ngài là Pi-e A-rô-nắc?
-Vâng. Còn ngài là thuyền trưởng Pha-ra-gút?
-Vâng, chính tôi! Xin chào giáo sư! Chúng tôi đã dành cho ngài một
phòng riêng! Tôi đáp lễ và biết thuyền trưởng đang rất bận chuẩn bị cho tàu
nổ máy nhổ neo, tôi chỉ đề nghị cho biết phòng riêng của tôi ở đâu. Tàu
Lin-côn rất thích hợp với nhiệm vụ mới. Đó là một chiếc tàu chiến có
những máy móc tối tân chạy bằng hơi nước có áp suất tới bảy at-mốt-phe.
Với áp suất đó, tàu Lin-côn chạy nhanh mười tám hải lý một giờ. Tốc độ
như vậy là nhanh nhưng tiếc thay vẫn chưa đủ để đuổi bắt con cá khổng lồ
kia. Sự trang trí bên trong tàu cũng tương xứng với những phẩm chất hàng
hải của tàu. Tôi rất hài lòng về căn phòng riêng ở phía lái và thông với
phòng ăn.
-Chúng ta ở đây rất tiện, -tôi bảo Công-xây.
-Thưa giáo sư vâng. Tôi bảo Công-xây mở va-li, xếp ra những đồ dùng
cần thiết còn tôi thì lên boong xem tàu chuẩn bị nhổ neo. Đúng lúc đó,
thuyền trưởng Pha-ra-gút hạ lệnh tháo dây neo tàu Lin-côn ở bến Blúc-lin.
Nếu tôi đến chậm 15 phút, thậm chí ít hơn, thì có lẽ tàu đã lên đường và tôi
sẽ không được tham gia cuộc thám hiểm rất đặc biệt, có một không hai này,
cuộc thám hiểm dù có thuật lại một cách chân thực cũng vẫn bị coi như một
chuyện bịa đặt hoàn toàn. Thuyền trưởng Pha-ra-gút không để mất một
ngày, một giờ nào. ạng ta phải tức tốc tới những vùng biển đã phát hiện ra
quái vật. Pha-ra-gút gọi trưởng máy lên hỏi: -áp suất đã đủ chưa?
-Thưa, đủ.
-Cho tàu chạy!
-Pha-ra-gút ra lệnh. Mệnh lệnh lập tức được truyền xuống buồng máy.
Chân vịt quay ngày càng nhanh. Tàu Lin-côn hùng dũng tiến quân, có hàng
trăm xuồng và tàu kéo chở đầy người tiễn đưa long trọng. Bến tàu Blúc-lin
và tất cả khu vực dọc sông It-ri-vơ của Niu I-ooc chật ních người. Những
tiếng hoan hô từ miệng năm mươi vạn người vang lên không ngớt. Hàng
ngàn khăn tay được tung lên trời cho tới khi tàu Lin-côn ra tới vịnh Hút-dôn
ở mỏm ngoài cùng của bán đảo, nơi thành phố Niu I-ooc đang xây dựng. Ba
giờ chiều. áp lực hơi nước tăng lên, chân vịt quay ngày càng nhanh. Chiếc
tàu chạy dọc theo bờ cát thấp Long Ai-len và tới gần tám giờ sáng thì mở
hết tốc lực vượt trên sóng nước Đại Tây Dương đen thẫm.
Hai Vạn Dặm Dưới Biển
Jules Verne
www.dtv-ebook.com
Chương 4
Nét Len
Thuyền trưởng Pha-ra-gút là một người đi biển dày kinh nghiệm, thực
xứng đáng với chiếc tàu chiến mà ông ta chỉ huy. Pha-ra-gút với con tàu chỉ
là một. ạng ta là linh hồn của tàu. ạng ta không mảy may nghi ngờ sự tồn tại
của con cá, nhưng cũng không cho phép ai được bàn tán nhảm nhí về vấn
đề đó. ạng ta tin là có con quái vật không phải bằng óc mà bằng tim. Pha-ragút sẽ trừ khử được nó -ông ta thề như vậy.
T
Hoặc là thuyền trưởng Pha-ra-gút sẽ diệt con cá thiết hình, hoặc là con cá
sẽ giết chết Pha-ra-gút. Không thể có sự thỏa hiệp nào! Toàn thể thủy thủ
nhất trí với thuyền trưởng. Điều đó thể hiện rất rõ khi họ bàn luận, tranh cãi
với nhau, khi họ cân nhắc từng khả năng giúp họ tìm ra con quái vật một
cách nhanh chóng nhất, khi họ chăm chú quan sát mặt biển! Ngay cả những
sĩ quan, lúc bình thường vẫn xem việc trực ban là một nhiệm vụ khổ sai, giờ
đây cũng sẵn sàng trực thêm giờ. Về phía thủy thủ thì họ chỉ có một nguyện
vọng: tìm thấy con cá một sừng, bắn trúng nó, kéo lên tàu rồi xả ra từng
mảnh. Họ quan sát mặt biển một cách căng thẳng. Cần nói thêm rằng
thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hứa là sẽ thưởng hai ngàn đô-la cho người nào
phát hiện ra quái vật đầu tiên, không kể là thủy thủ đang học nghề, thủy thủ
hay sĩ quan. Tôi cũng chẳng thua gì mọi người, tôi cũng đứng trên boong
ngày này sang ngày khác. Chỉ có Công-xây là tỏ vẻ dửng dưng trước
chuyện này và không hề có cái tâm trạng bị kích động đang lan tràn trên
tàu. Thuyền trưởng Pha-ra-gút đã trang bị cho tàu của mình tất cả những
thứ cần thiết để đánh con cá voi khổng lồ. Không một chiếc tàu đánh cá voi
nào có thể được trang bị tốt hơn. Trên tàu Lin-côn có tất cả các thứ đạn bắn
cá voi hiện đại nhất, từ loại đạn giống mũi tên nhọn phóng đi bằng tay, đến
các loại đạn phá bắn bằng súng nòng dài. Phía mũi tàu có một cỗ đại bác
kiểu cải tiến bắn loại đạn hình nón nặng bốn ki-lô-gam đi xa mười sáu kilô-mét. Tóm lại, tàu Lin-côn được trang bị tất cả các loại vũ khí ghê gớm
nhất. Nhưng chưa hết! Trên tàu còn có Nét Len -"vua" bắn cá voi. Nét Len,
gốc Ca-na-đa, là thợ săn cá voi giỏi tuyệt vời. Anh ta chưa hề gặp đối thủ
trong cái nghề nguy hiểm của mình. ở Nét Len, sự khéo léo và bình tĩnh,
lòng can đảm và sự nhanh trí đã kết hợp với nhau một cách cân đối. Cá voi
hay cá nhà táng phải quỷ quyệt ranh ma lắm mới thoát được phát đạn của
anh ta. Nét Len khoảng gần bốn mươi tuổi. Anh ta cao lớn, vạm vỡ, vẻ mặt
khắc khổ, ít cởi mở, nóng tính, nên hơi một chút là nổi giận đùng đùng. Vẻ
bề ngoài của anh ta làm mọi người chú ý, đặc biệt là đôi mắt cương nghị.
Tôi cho rằng thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hành động đúng khi mời Nét Len
tham gia cuộc tìm kiếm. Cánh tay rắn chắc và đôi mắt tinh tường của anh ta
cũng bằng tất cả đội thủy thủ rồi. Có thể ví Nét Len như một cái kính viễn
vọng đồng thời là một khẩu đại bác luôn luôn sẵn sàng nhả đạn. Người Cana-đa thì cũng là người P...
 





